HỌC TẬP SUỐT ĐỜI VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở VIỆT NAM


GS.TSKH. Vũ Ngọc Hải

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

altTrang Thông tin điện tử Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk xin trích giới thiệu bài viết của GS.TSKH. Vũ Ngọc Hải (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam)" Về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở nông thôn Việt Nam " nhân “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời” từ ngày 01/10 đến ngày 07/10/2012.

Về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

Năm 1949 tại Ensinore (Đan Mạch) người ta đã bàn đến giáo dục cho người lớn. Năm 1960 tại Montreal (Canada) đã mở hội nghị bàn nhiều về việc làm thế nào để xoá mù chữ cho người lớn tuổi ở các nước mới giành được độc lập. Năm 1972 tại Tokyo (Nhật), người ta bàn nhiều về dân chủ trong giáo dục và giáo dục cho người lớn là một nhân tố quan trọng cho việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế-xã hội cho từng quốc gia. Năm 1972 trong cuốn “Học để thành người: thế giới của giáo dục hôm nay và ngày mai”, Faure đã đề cập đến xã hội học tập với nét đặc trưng tính dân chủ, bình đẳng của giáo dục. Năm 1985 tại Pari (Pháp), hội nghị đã thông qua 6 quyền của con người về giáo dục trong bản tuyên ngôn về quyền giáo dục: 1/ Quyền biết chữ; 2/ Quyền học hỏi; 3/ Quyền sáng tạo; 4/ Quyền tìm hiểu mình và lịch sử; 5/ Quyền sử dụng nguồn lực giáo dục; 6/ Quyền phát triển cá nhân. Năm 1990 tại Jomtien đề cao giáo dục cơ sở và coi đây như một “giấy thông hành cho cuộc đời” và là chìa khoá để học tập suốt đời trong một xã hội học tập. Năm 1996 trong báo cáo “Học tập: một kho báu tiềm ẩn” của Jacques Delors, người đứng đầu Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đã nhấn mạnh 2 khái niệm: học tập suốt đời và xã hội học tập và coi giáo dục là nhân tố then chốt của sự phát triển xã hội. Báo cáo cho rằng giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống với nhau.

Năm 1997 tại Hamburg (Đức) trong xu thế toàn cầu hóa, người ta lại bàn nhiều đến giáo dục cho người lớn với các ý tưởng: 1/ Giáo dục người lớn để thừa nhận chân giá trị của con người; 2/ Giáo dục người lớn để tạo điều kiện bình đẳng giữa người và người; 3/ Giáo dục người lớn để cải tạo xã hội. Năm 2000 tại Okinawa (Nhật Bản), hội nghị thượng đỉnh các nước G8 đã chủ trương xây dựng xã hội học tập trên quan điểm học tập suốt đời. Cũng năm 2000 tổ chức các nước trong hội đồng kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương ( APEC ) đã kêu gọi các nước xây dựng ở nước mình xã hội học tập và học tập suốt đời. Trên thực tế thì nhiều nước như Canada, Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Singapore...đều đã có kế hoạch xây dựng xã hội học tập từ những năm 70 và 80 của thế kỷ trước. Một số nước như Singapore đã đề ra “Nhà trường tư duy, Quốc gia học tập”; Thái Lan nêu: “ Giáo dục Thái Lan trong toàn cầu hoá hướng tới một xã hội học tập “. Nhật Bản năm 1990 đã lập Uỷ ban quốc gia về học tập suốt đời.

Khái niệm “ học tập suốt đời “ và “ xây dựng xã hội học tập “ thật ra đã có mầm mống được sử dụng ở nước ta từ lâu. Sau cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Bác Hồ đã mong muốn dân ta ai cũng được học hành và Bác cũng đã yêu cầu người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ - Đây chính là mầm mống khởi đầu của việc xây dựng một xã hội học tập để mọi người đều được học tập. Song song với việc xoá mù chữ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành giáo dục nước ta đã mở ra hệ thống học tập không chính quy dành cho người lớn tuổi, cho người nghèo, cho con em tầng lớp lao động. Khắp nơi trên đất nước hàng loạt các trường phổ thông lao động, các trường bổ túc công nông, bổ túc văn hoá, vừa học vừa làm đã hình thành và đem lại quyền được học hành cho mọi người dân, mà trước đấy trong lịch sử phát triển giáo dục nước ta chưa từng bao giờ có được. Mặt khác, trong các trường thuộc hệ chuyên nghiệp và đại học hàng loạt các khoa, các lớp tại chức, chuyên tu với đủ tất cả các lĩnh vực, ngành nghề cũng đã được mở ra để đáp ứng cho nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực lớn mà xã hội đang đòi hỏi. Ngành giáo dục đã bám sát nguyên tắc “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, đồng thời ở khắp nơi trong cả nước cũng giấy lên một không khí sôi nổi thực hiện khẩu hiệu: “Học, học nữa, học mãi “ của V.I. Lênin. Có thể nói những năm tháng này ở nước ta trên thực tế đã có mầm mống hình thành một xã hội học tập. Nhờ những bước đi đúng đắn này mà ở nước ta ngày hôm nay mới có được một đội ngũ trí thức công nông lớn mạnh, mà trong họ không ít người nhờ qua con đường học không chính quy đã trưởng thành và  đạt tới đỉnh cao của các lĩnh vực khoa học, công nghệ và quản lý, trở thành những cán bộ  đầu ngành của hầu hết tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên phải chờ đến những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua nghị quyết các Đại hội, đặc biệt là nghị quyết trung ương 2 khoá VIII, Đại hội Đảng lần thứ IX, lần thứ X và gần đây là Đại hôi XI đã khảng định chủ trương phát triển giáo dục-đào tạo nước ta theo hướng“ cả nước trở thành một xã hội học tập”.

Mục tiêu quan trọng và cuối cùng của phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay chính là xâydựng một nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân. Xây dựng xã hội học tập suốt đời phải là một trong những chiến lược then chốt của giáo dục nước ta trên con đường đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo do Đảng khởi xướng từ cuối thế kỷ trước và nó sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong thế kỷ XXI.

Bước vào thế kỷ XXI, ở nước ta việc xây dựng XHHT là để đảm bảo được việc học tập suốt đời của mọi người, có nghĩa là đảm bảo nhu cầu hoàn thiện của từng thành viên trong cộng đồng với sự phát triển kinh tế-xã hội và sự bình đẳng về giáo dục và đào tạo. Có thể coi đây là một quan niệm về triết lý giáo dục xây dựng con người mới thông qua giáo dục nhân bản, tô đậm bản sắc dân tộc và khai phóng con người Việt Nam mới bằng  học suốt đời trong xây dựng xã hội học tập với việc coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Học tập suốt đời trong xã hội học tập là tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục để từng thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả xã hội nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường làm cho nước ta sớm trở thành một nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời luôn gắn bó hữu cơ với nhau và là một nhu cầu bức xúc trong một thị trường lao động đang biến động và phát triển ở nước ta với sự trợ giúp của sự tiến bộ hàng ngày, thậm chí hàng giờ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và ngay cả văn hoá trong một xã hội phát triển lành mạnh.

Xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời là một chiến lược quan trọng để đạt được sự dân chủ và bình đẳng của mọi người trong xã hội. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã chỉ rõ: “ Tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập. Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng ”. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XI khảng định: “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với môi trường....Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm”[1]. Trong thích ứng với nền kinh tế chuyển đổi và triển khai có hiệu quả ý Đảng lòng dân về xây dựng nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề tạo môi trường học tập suốt đời cho mỗi người dân trong  xây dựng xã hội học tập là bức xúc của mỗi cá nhân trong nâng cao chất lượng cuộc sống. Năm 2010, cả nước đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở đã thiết lập cơ sở vững chắc cho việc học tập suốt đời. Như vậy có thể nói học tập suốt đời là một quan niệm triết lý giáo dục mới, là nhu cầu về sự hoàn thiện của mỗi người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong nền kinh tế thị trường với một thị trường lao động luôn biến động theo sự phát triển nhanh của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và đem lại cơ hội bình đẳng về giáo dục. 

Thực trạng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở nông thôn nước ta

Sau 25 năm đổi mới, nước ta đã thay đổi cơ bản, từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qúa trình này ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến toàn bộ hệ thống giáo dục nói riêng và tạo dựng nền giáo dục mở mới nói chung. Hòa nhịp với nền giáo dục mở, nhu cầu học tập suốt đời dần dần đã trở thành lẽ sống không thể thiếu được của mọi người.

Sự phát triển nhanh của khoa học-công nghệ ở nông thôn trong những năm đổi mới ở nước ta cũng đã mở ra nhu cầu mới về học tập suốt đời cho nông dân. Việc đưa khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào phát triển nông nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn ở trình độ cao hơn trong hệ thống sản xuất. Kết quả yêu cầu người nông dân cần đa dạng hơn với nhiều kiến thức, kỹ năng để sản xuất phát triển. Người nông dân, nhất là thanh niên nông thôn trong bối cảnh mới cần có trình độ học vấn cao hơn với nhiều kiến thức, kỹ năng tay nghề mới hơn để đẩy quá trình sản xuất nhanh hơn và hiệu quả hơn. Mặt khác với truyền thống của một dân tộc hiếu học, ngoài tác động của tiến trình chuyển đổi kinh tế và tiến bộ của khoa học-công nghệ, bản thân mỗi nông dân ngày càng quan tâm hơn đến các nhu cầu cá nhân riêng biệt trong nâng cao chất lượng đời sống bản thân, gia đình, họ tộc và cộng đồng. Do vậy học tập suốt đời còn là nhu cầu thực sự của mỗi nông dân để tự thỏa mãn mình.

Ngày 21-8-1997 Chính phủ đã có nghị quyết 90/CP về xã hội hoá giáo dục, y tế và văn hoá. Theo nghị quyết này ở nước ta phải tạo ra một phong trào học tập sâu rộng với nhiều hình thức cho mọi người trong toàn xã hội. Toàn dân, các ngành phải có trách nhiệm cao với giáo dục, chăm sóc thế hệ trẻ. Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho phát triển giáo dục. Toàn xã hội có trách nhiệm tham gia vào quá trình giáo dục-đào tạo. Huy động mọi lực lượng tham gia vào quá trình đa dạng hoá các hình thức học tập và loại hình nhà trường. Huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho giáo dục-đào tạo.

Ngày 19-8-1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, trong đó cũng đã nêu rõ một số những ưu tiên cần thiết cho xã hội hoá giáo dục-đào tạo về cơ sở vật chất, đất đai; về thuế, phí, lệ phí; về tín dụng; về bảo hiểm về quản lý tài chính và khen thưởng.

Những thành đạt: để mở ra thời kỳ mới trong xây dựng xã hội học tập và tạo điều kiện để mọi người được học suốt đời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ngành giáo dục đã nhanh chóng đa dạng hoá các loại hình trường, lớp: công lập, bán công, dân lập, tư thục.  Đa dạng hoá các hình thức học tập: Chính quy, không chính quy và phi chính quy. Đa dạng hoá phương thức học tập: trong nhà trường, ngoài nhà trường, tại gia đình, học tại chức, học theo phương thức mở, học từ xa, tự học và đang có mầm mống phát triển các cách học ảo. Nhà nước tăng kinh phí đầu tư cho giáo dục-đào tạo. Chính quyền các cấp nhất là tỉnh, thành phố và quận, huyện, xã, phường... chủ động hỗ trợ thêm về kinh phí, đất đai, nhà cửa và có những chính sách cụ thể giúp cho việc xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở địa phương mình có thêm điều kiện phát triển; hiện trong cả nước đã có trên vạn các trung tâm học tập cộng đồng. Xây dựng các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục cộng đồng ở hầu hết các tỉnh, thành phố, quận huyện nhiều nơi tới thôn, xã, làng bản để tạo điều kiện thuận lợi cho người học. Mở rộng và phát triển các trung tâm dạy nghề, các trung tâm hướng nghiệp ở các quận huyện. Tạo điều kiện cho các giáo viên, giảng viên, các cán bộ khoa học ở các trường công lập, các viện nghiên cứu tham gia giảng dạy ở các trường ngoài công lập. Ngân hàng cho vay vốn với điều kiện ưu đãi để các trường, nhất là các trường ngoài công lập để có thể đầu tư xây dựng cơ sở, mua sắm thiết bị giảng dạy và học tập. Tăng quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho tất cả các cơ sở giáo dục- đào tạo. Thực hiện dân chủ hoá trong trường học và đảm bảo tính bình đẳng giữa các loại hình cơ sở giáo dục. Nhiều địa phương tiến hành tổ chức đại hội giáo dục các cấp. Thành lập các Hội về giáo dục như Hội Khuyến Học, Hội Giáo chức, Hội các trường ngoài công lập v.v... Thành lập hội cha, mẹ học sinh. Hình thành một phong trào khá rộng lớn hiện nay về đảm bảo chăm sóc về chăm sóc rèn luyện đạp đức và học hành cho con cháu trong từng họ tộc.

Những bất cập: nhiều nơi, nhiều người, thậm chí không ít cán bộ quản lý còn hiểu  xây dựng xã hội học tập và học suốt đời đơn thuần chỉ là xây dựng phong trào vận động nhân dân, các tổ chức, đoàn thể, kinh tế-xã hội đóng góp tiền của để xây dựng trường sở và mua sắm thiết bị, nâng cao cơ sở vật chất cho trường học với phương châm: “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mà quên đi mục tiêu của xây dựng xã hội học tập là để mọi người được học suốt đời, không những thế mà còn là thực hiện quan điểm của Đảng “Giáo dục-đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân”. Tập trung mọi nguồn lực chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ, chăm lo việc học hành cho tất cả mọi người, huy động sức mạnh tổng hợp để có được một phong trào học tập sâu rộng, xây dựng một xã hội học tập suốt đời. Gáo dục suốt đời còn nhằm thực hiện giáo dục toàn diện không chỉ dạy chữ mà quên đi hoặc sao nhãng việc dạy người, hoặc chưa quan tâm đúng mức việc rèn luyện cho người học có bản lĩnh chính trị, có nhân cách và phẩm chất cách mạng, có lối sống lành mạnh, sống để làm việc theo lý tưởng của Đảng, để phục vụ nhân dân, phục vụ cộng đồng, mình vì mọi người và mọi người vì mình, hướng tới xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giầu đẹp, công bằng và văn minh.

Những tiền đề xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời ở nông thôn nước ta.

Cơ hội để xây dựng xã hội học tập suốt đời trong nông thôn Việt Nam mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

- Đô thị hóa nông thôn: trong những năm đổi mới nông nghiệp nước ta phát triển khá ôn định, đặc biệt là sản xuất lương thực. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân  trên thực tế đã được cải thiện nhiều. Nhiều vùng, miền nông thôn Việt Nam đã được xây dựng mới cơ sở hạ tầng; hình thành các cụm công nghiệp, các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp...Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô thị. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với việc bảo vệ môi trường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông thôn nước ta đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hơp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc; đang triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.

Nông thôn trong xã hội thông tin: chú ý phát triển hệ thống thông tin đại chúng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin-giáo dục vì lợi ích của nông thôn, của nông dân và lợi ích của đất nước. Tăng cường hiệu quả hoạt động thông tin, đồng thời đổi mới mô hình, cơ cấu hoạt động thông tin ở nông thôn theo hướng hiện đại.

- Đổi mới môi trường việc làm ở nông thôn: cơ cấu lao động ở nông thôn có nhiều thay đổi. Lao động nông nghiệp năm 2005 chiếm 57,1% đến năm 2010 đã giảm xuống còn 48,2%. Năm 2010 cả nước đã phổ cập xong giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng, cũng trong năm này đã đạt 40% tổng số lao động đang làm việc. Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên. Năm 2000, chỉ số phát triển con người ở nước ta dừng ở mức 0,683; năm 2008 lên được mức 0,733 và xếp ở thứ hạng 100/177 nước, thuộc nhóm nước trung bình cao. Nông nghiệp nông thôn Việt Nam đang phát triển theo lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới và theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ “bốn nhà” (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển tiểu thủ công nghiệp và kinh tế dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn.

Đào tạo nghề cho nông dân là một thành phần cơ bản làm nền tảng trong xây dựng xã hội học tập ở nông thôn và cơ hội để mỗi nông dân được học tập suốt đời

Đào tạo nghề cho nông dân là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đang được triển khai mạnh ở nông thôn Việt Nam với bản chất thực sự là xây dựng một hệ thống phát triển các kỹ năng và năng lực làm việc suốt đời cho nông dân; hay nói rõ hơn đây là cơ hội tạo nền tảng cho xây dựng xã hội học tập ở nông thôn để nông dân được học suốt đời. Nước ta đang trong thời kỳ chuyển dịch nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Với chính sách “ly nông, nhưng không ly hương”; người làm nông nghiệp ngày một thu hẹp. Tỷ lệ nông dân “thất nghiệp” sẽ gia tăng vì sự chuyển dịch của nền kinh tế, vì quá trình đô thị hóa; một số ngành sản xuất sẽ thay đổi cơ bản, hoặc sẽ mất đi và thay vào đó là nhiều ngành sản xuất mới. Việc đào tạo chuyên môn cho và nghề nghiệp cho những nông dân bị ảnh hưởng là cực kỳ quan trọng và hết sức cấp bách. Để phần nào đáp ứng yêu cầu này, Đảng và Nhà nước đã dành ngân sách hằng năm dạy nghề cho 1 triệu nông dân. Tuy nhiên đây vẫn chỉ là giải pháp có tính trước mắt. Trong hoàn cảnh này nước ta cần một chiến lược dài hạn, cần mở rộng và phát triển giáo dục thường xuyên để cho tất cả những ai mong muốn mình có nghề mới, muốn phát triển nghề nghiệp của mình hoặc thay đổi nghề...để có công ăn việc làm thích hợp. Trong vài thập niên tới, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng sẽ luôn thay đổi và có ý nghĩa quan trọng trong việc thích ứng với sự phát triển của khoa học-công nghệ và sự đòi hỏi của thị trường lao động. Sự phát triển của nông nghiệp đòi hỏi có nhiều công nhân nông nghiệp, chứ không phải nông dân thuần túy và nền công nghiệp mới sẽ thu hút một số lượng cực lớn công nhân với nhiều thang bậc trình độ, kỹ năng và tay nghề khác nhau.

Ngày nay, học tập suốt đời dần đã trở thành một trong những chìa khóa quan trọng ở nước ta để thực hiện nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước đã có một số chủ trương, chính sách để phát triển một xã hội học tập suốt đời. Một xã hội trong đó mọi sự phát triển của từng cá nhân về năng lực, sở trường, nguyện vọng đều được coi trọng.

Nông thôn Việt Nam sau 25 năm thực hiện đổi mới đã có những thay đổi đáng kể. Nông nghiệp nước ta ngày một phát triển nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nhu cầu nông dân “truyền thống” được đào tạo để trở thành “công nhân nông nghiệp” ngày càng gia  tăng thông qua việc hình thành các trang trại, các hợp tác xã, các “công ty nông nghiệp” và các “doanh nghiệp nông thôn” sản xuất mới...Trong cơ cấu nông nghiệp mới, các kỹ năng và sự hiểu biết mới về sản xuất thông qua cơ chế thị trường ngày càng đến được với nông dân thông qua các lớp đào tạo, khuyến nông và dạy nghề mới. Nông thôn Việt Nam cũng bắt đầu để ý thường xuyên đến việc săn lùng chất xám, xuất hiện một thị trường mới về thị trường lao động trong sản xuất nông nghiệp. Trong thị trường lao động nông nghiệp mới, sự cá nhân hóa được khuyến khích. Như vậy nhu cầu của mỗi nông dân có cơ hội được đào tạo và đào tạo lại để nâng cao năng suất hoặc chuyển đổi nghề nghiệp nâng cao mức sống là cần thiết và mỗi ngày một gia tăng. Quan hệ mới giữa nhà trường đến các trung tâm học tập cộng đồng thông qua sự gắn kết gia đình và cộng đồng làng xóm trong trách nhiệm đào tạo đã tạo dựng vị trí mới cho việc học tập suốt đời của mỗi nông dân. Mỗi nông dân nước ta trong bối cảnh hiện nay đều muốn thông qua hệ thống học tập suốt đời có trong thôn, xã để có thể giúp mình có được kỹ năng và năng lực làm việc suốt đời.

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng cho phát triển giáo dục-đào tạo như: giáo dục là quốc sách hàng đầu; Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục phải đi trước một bước, giáo dục là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Để thực hiện các chủ trương lớn này, Đảng, Quốc hội, Chính phủ cũng đã có hàng loạt các nghị quyết, quyết định, chỉ thị…như các nghị quyết trung ương 4 khoá VII (1993); nghị quyết trung ương 2 khoá VIII (1996); nghị quyết trung ương 7 khoá IX (2001); Luật Giáo dục 1998; 2005,2009; Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Nghị quyết 37 của Quốc hội và nhiều chỉ thị quyết định khác. Dân tộc ta là dân tộc có truyền thống hiếu học, cần cù, chăm chỉ, chịu khó học tập trong bất cư hoàn cảnh khó khăn nào. Năm 2000 cả nước ta đã xoá mù chữ và phổ cập xong giáo dục tiểu học. Năm 2010 cả nước cũng đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ người lao động qua đào tạo đến nay cũng đã đạt trên 30%. Cơ cấu nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Cơ sở vật chất, phương tiện giao thông, phương tiện kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho học tập như máy vi tính, thư điện tử, internet và các phương tiện truyền thông nghe, nhìn từ xa ngày một gia tăng tới cả các vùng, miền khó khăn, xa xôi hẻo lánh. Sự đòi hỏi và đảm bảo công bằng giáo dục cho 60 triệu người lớn tuổi không có điều kiện theo học ở các trường lớp chính quy truyền thống. Thông qua xã hội học tập và học tập suốt đời là cơ hội giảm đi số người thất nghiệp và tạo cơ hội có thêm công ăn việc làm cho nhiều người khác. Nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, nâng cao nếp sống văn minh, giữ gìn bản sắc văn hoá, thuần phong, mỹ tục truyền thống của dân tộc. Giáo dục suốt đời sẽ là cơ sở vững chắc đảm bảo cho dân chủ hoá. Tổng sự thành đạt của tổng cá nhân trong xã hội là mục tiêu phát triển của xã hội. Học tập suốt đời giúp định dạng đầy đủ từng thành viên trong xã hội. Xã hội học tập đảm bảo quyền được học của mọi thành viên trong xã hội…

Trích nguồn: Hội Khuyến học Việt Nam (http://www.hoikhuyenhoc.vn)



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

THỐNG KÊ

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2820
mod_vvisit_counterHôm qua8969
mod_vvisit_counterTháng này184293
mod_vvisit_counterTháng trước196630

Hiện có 53 khách Trực tuyến

LIÊN KẾT

Aleo Flash Intro Banner Maker



ẢNH HOẠT ĐỘNG

THỜI TIẾT


daklak.edu.vn
Đang Tải Dữ Liệu

TỪ ĐIỂN TRỰC TUYẾN


Từ điển tổng hợp
Anh-Pháp-Việt-Nôm-Hoa

BẢN ĐỒ VỆ TINH


View Larger Map

Cơ quan chủ quản: Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk. Địa chỉ: 08 Nguyễn Tất Thành, TP. Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk.

Điện thoại: (0500) 3.852106 Fax: (0500) 3811208 -   Email: vanphong.sodaklak@moet.edu.vn , gddt@daklak.gov.vn

Thể hiện tốt nhất với  trình duyệt Firefox 6, Internet Explorer  8 , Google Chrome - chế độ màn hình 1024x768

Ghi rõ nguồn "Sở Giáo dục & Đào tạo" khi phát hành lại thông tin từ website

Phát triển bởi: Phamyendlk - Đinh Gia Thao - admin@daklak.edu.vn